DI CHÚC CHƯA PHÁP SINH HIỆU LỰC
Trong nhiều tranh chấp thừa kế, vấn đề di chúc chưa phát sinh hiệu lực thường gây ra nhiều rắc rối pháp lý và mâu thuẫn trong gia đình. Bài viết này sẽ phân tích tình huống thực tế, quy định pháp luật liên quan và cách giải quyết để bạn đọc hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ khi xử lý di sản thừa kế.
TÌNH HUỐNG THỰC TẾ
Anh B cho biết gia đình anh đang rơi vào tình huống tranh chấp thừa kế khó xử như sau:
Ông bà nội anh có bốn người con. Năm 1989, ông nội anh tổ chức cuộc họp gia tộc cùng bà nội, các anh chị em của ông nội và các cô chú bác của anh, có lập biên bản giao quyền thừa kế căn nhà từ đường của ông bà nội cho cha anh, với chữ ký của mọi người, chữ ký của ông nội và dấu vân tay của bà nội vì bà nội không biết chữ.
Năm 2003 với tờ di chúc này, cha anh đã được cấp giấy tờ chủ quyền nhà đất. Nay bác trai anh đòi chia nhà đất và tuyên bố: ra tòa, bà nội anh sẽ khai là bị ép lăn tay (sự thật bà nội anh tự nguyện).
Vậy theo pháp luật sẽ phải giải quyết như thế nào? Cha anh có đủ chủ quyền đối với toàn bộ nhà đất đã có chủ quyền này không?
TRẢ LỜI
Theo luật định, vợ chồng có thể lập di chúc để định đoạt tài sản chung. Di chúc có hiệu lực nếu hội đủ các điều kiện sau: người lập di chúc minh mẫn sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái quy định pháp luật…
Ngoài ra di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại tài sản chết.
Như vậy khi ông nội anh B chết, phần di chúc của ông trong di chúc phát sinh hiệu lực; một nửa nhà đất trở thành di sản thừa kế thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cha anh B Nhưng còn phần di chúc của bà nội anh B trong di chúc chung thì chưa phát sinh hiệu lực nên bà có thể thay đổi nội dung di chúc
Mặt khác phần di chúc này, cũng chưa hợp pháp vì bà nội anh B không biết chữ mà không có người làm chứng ghi lại thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Do đó một nửa căn nhà còn lại vẫn thuộc quyền sở hữu, định đoạt của bà nội anh B. Vì vậy nếu phần nhà này đã lập thành sở hữu của cha anh B là chưa hợp pháp, vẫn có thể bị bà nội hoặc cô chú bác của anh B tranh chấp!
Xem thêm các bài viết khác liên quan: https://vplsphamquochung.com/category/cong-viec-dam-nhan/tranh-tung/dan-su/